Dây mật

Dây mật
Xem chi tiết ở phần dưới
Mô tả chi tiết


     1. Mô tả:

- Dây leo to, dài 7-10m. Cành non có lông mịn, cành già sần sùi, màu nâu đen. Lá kép mọc so le, dài 20–35cm cuống chung có lông, lá chét 9-13, hình mác, gốc tròn, đầu nhọn, dài 7,5-15cm, rộng 2,5–4cm, lá non lúc đầu hơi có lông ở mặt trên, sau nhẵn, có lòng mịn ở mặt dưới, gân nổi rất rõ.

- Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm dài 10-20 cm, có lông mịn, hoa màu hồng hoặc màu trắng, đài hoa hình phễu, có lông dày dạng mi. Ràng rất ngắn, cánh hoa có lông mịn ở mặt ngoài, cánh cờ hình mắt chim, có 2 tai ở gốc, nhị 10, bầu có lông, 3-4 noãn.

- Quả thuôn hoặc hình mác, dài 3,5-8cm, rộng 1,7- 2cm, có cánh rộng ở phía trên, hạt 1-4.

- Mùa quả tháng 8.

    2. Phân bố, sinh thái:

- Derris Lour gồm các loài là dây leo gỗ, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam hiện có 20 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997), một số loài được coi là cây độc.

- Dây mật phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới châu Á, tậр trung nhất  ở các vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, dây mật thường gặp ở các tỉnh vùng núi thấp (dưới 1000m) và trung du. Cây mọc ở ven rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, đồi và ở cả loại hình rừng núi đá vôi.

- Dây mật là cây ưa sáng có thể sống được trên nhiều loại đất, thường leo lên các cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi. Ra hoa quả nhiều hàng năm. Cây con mọc từ hạt vào khoảng tháng 4–6. Tuy nhiên, do hạt phát tán vào mùa mưa lũ nên thường bị nước cuốn trôi nhiều. Dây mật có khả năng tái sinh sau khi bị chặt.

     3. Bộ phận dùng:

- Rễ dây mật thu hoạch vào cuối năm thứ hai (hoạt chất cao nhất trong thời gian này). Đào rễ, không bỏ rễ con (rễ này chứa nhiều hoạt chất), phơi nắng thật nhanh, bảo quản nơi khô mát đến độ ẩm khoảng 10%

    4. Thành phần hoá học:

- Rễ dây mật chứa rotenon (0, 3 - 12% sumatrol, deguelin 0.2 - 2.9%, tephrosin, toxicarol 0 - 4.4%, eleptinol 12c - hydroxyrotenon.

- Rotenon, là hoạt chất chính, chất kết tinh hình lăng trụ, không màu, quay trái, hầu như không tan trong nước , hơi tan trong alcol và ether, rất tan trong aceton, benzen, cloroform. Khi tiếp xúc với ánh sáng, không khí rotenon dễ bị phân huỷ tạo thành các chất dehydrorotenon và rotenonon.

- Hàm lượng rotenon phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu và cách trồng như nhiệt độ, độ cao, lượng mưa, khoảng cách trống. ..

- Rễ phải chứa 3% rotenon mới có tác dụng.

Ngoài ra, rễ còn có maackin, clipton, acid tubaic

-Lá chứa alcaloid có nhân pyrolidin.

Rotenon độc với động vật máu lạnh bằng đường ăn uống hoặc do tiếp xúc với nồng độ. Deguelin tác dụng kém hơn 10 lần, tephrosin 40 lần và toxicarol 400 lần.

- Lá dây mật chứa nhiều acid amin. Lá tươi có 2,5- dihydroxymethyl- 3,4- dihydroxypyrolidin.

    5. Tác dụng dược lý:

- Ở các nước Đông Nam Á, từ lâu dây mật đã được dùng duốc cá và làm thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, nhất là đối với nghề làm vườn trồng rau. Các rotenoid là những hoạt chất có độ độc mang tính chọn lọc cao,

rất độc đối với cả sâu bọ, côn trùng và hơi độc đối với các động vật có vú. Rotenon có độ độc mạnh nhất sau đó đến deguelin, elipton và toxicarol. Các chất này đều độc đối với hệ hô hấp. Cá rất nhạy cảm với rοtenon, một dung dịch cό 75mg rοtenon trong 100 nước ở nhiệt độ 23°C đủ để giết cả vàng trong vòng 2 giờ với triệu chứng ngưng thở và trước khi chết có một thời kỳ bị kích thích. Rễ dây mật nghiền nhỏ cho vào nước với nồng độ 1 phần triệu, làm cá bị say và bị bắt dễ dàng. Ở liều cao, cá có thể bị chết. Đối với côn trùng, sau hại mùa màng, dây mật và các hoạt chất kể trên khống chế được rất nhiều loại sâu, rệp, bướm, nhậy, bọ trĩ, rẩy hại rau màu, ngô lúa và cây ăn quả.

- Trong chăn nuôi gia cầm, các hoạt chất trên diệt được ve, bọ chét, rận, rệp giúp cho công tác bảo vệ tốt. Rotenon có tác dụng làm liệt trung tâm hô hấp của sâu bọ, sau khi tiếp xúc với thuốc, sâu bọ yếu dần rồi chết, không giãy giụa trái với khi dùng pyrethrin thì sâu quần quại Rotenon với nồng độ 20 phần triệu, giết chết 100% ốc sau 48 giờ tiếp xúc. Dạng chiết bằng cồn ethanol và bằng cloroform của rễ dây mật cũng giết chết 100% ốc với nồng độ tương ứng là 100 phần triệu và 20 phần triệu. Đối với động vật máu nóng, các roteroid hầu như không có độc tính khi dùng qua đường tiêu hoá, nhưng nếu tiêm mạch máu thì gây liệt hô hấp và chết do ngạt thở. Rotenon có thể cho chó uống tới liều 150mg/kg thận trọng mà không gây tử vong. Gần đây một số công trình nghiên cứu về rotenon được tiến hành trên các tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm và đã xác định rotenon có tác dụng độc tế bào mạnh đối với những dòng tế bào ung thư fibrosarcom, ung thư phổi, ung thư ruột, ung thư vú và melanom cũng như tế bào lympho của leukaemia và carciinom của mũi họng. Do đó, retonon được đánh giá là một chất chống khối u mạnh. Tác dụng độc tế bào của rotenon có phổ rộng nhưng không đặc hiệu với bất cứ loại tế bào nào. Ngoài những tác dụng trên, một số công trình nghiên cứu cho thấy chất acid tubaic có trong rễ dây mật có tác dụng kháng khuẩn, ức chế sự sinh trưởng củ Bacillus subtilis,Staphylococcus aureus, Escherichia coli với nồng độ cao. Một số thành phần chiết từ lá có cấu trúc pyrolidin có tác dụng hủy adrenalin và làm giảm mạch máu.

- Lá của dây mật có độc, đủ để giết chết gia súc.

   6. Tính vị, công năng:

Dây mật có tác dụng sát trùng, chỉ dưỡng (trị ngứa).

    7. Công dụng:

- Ở Việt Nam, ở một số vùng người ta thu hái dây mật tươi làm thành một vòng treo trên sừng những con trâu bò bị giòi hoặc có ký sinh trùng. Mùi của dây mật sẽ làm cho những vật này tự động bỏ đi. Ở Nhật Bản rễ và thân rễ dây mật giã nát, đắp tại chỗ hoặc sắc lấy nước rửa chữa ghẻ. Ở Philippin, người ta dùng dây mật để đầu độc hoặctự tử. Ở Borneo, cao dây mật dùng tẩm tên độc.

- Để duốc cá, người ta lấy ít rẽ dây mật (số lượng tuỳ theo lượng nước nhiều hay ít ở nơi có cá), giã nhỏ, thả vào nước vài giờ sau, cá bị nhiễm độc nên ngạt thở rối nổi lên mặt nước. Bắt cá này thả vào nước sạch, cá sẽ sống lại.

-  Để trừ sâu trong nông nghiệp, lấy rễ dây mật tươi l-3kg, giã nát, cho vào 10 lít nước khuây kỹ, ngâm trong trong 24 giờ. Lọc, bỏ bã, đem phun cho rau màu có sâu trên diện tích khoảng một sào bắc bộ. Hoặc có thể thái rễ thành phiến, phơi khô, giã nhỏ rồi dùng dưới dạng thuốc bột hoặc trộn với xà phòng thành dạng nhũ dịch. Không dùng bột dây mật nguyên chất mà thường trộn với bột talc, đất sét, thạch cao v.v với tỷ lệ 15-30%. Cần tránh trộn với những bột có phản ứng kiềm vì chất kiểm làm cho rotenon mất tác dụng.

-  Có thể dùng bột rotenon và cũng trộn với những bột trơ khác với tỷ lệ rotenon trung bình là0,25-0,5% tối đa là 1%. Bột rotenon để một năm không bị giảm tác dụng, Dung dịch nước ngâm 5% dễ dây mật tươi có tác dụng diệt sâu mạnh. Có khi người ta dùng phối hợp rotenon hay rễ dây mật với pyrethrin vì pyrethrin tác dụng nhanh hơn.

- Ở Việt Nam Trung tâm kiểm dịch hoá chất bảo vệ thực vật đã chiết xuất rotenon từ dây mật làm thuốc trừ sâu bằng hệ dung môi lạnh đạt hiệu suất cao, tốn ít năng lượng đồng thời có hiệu quả sinh học rõ rệt.

- Ưu điểm của việc sử dụng các chế phẩm từ dây mật làm thuốc trừ sâu là các thành phần độc trong chế phẩm bị phân huỷ mất tác dụng trong vòng 6-7 ngày sau khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và không khí, nên ít có ảnh hưởng đến môi trường.

Nguồn: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

Liên hệ

GLOBAL GARDEN

Liên hệ quảng cáo theo thông tin liên hệ sau.

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.